Tóm tắt sách: “Tự học, một nhu cầu của thời đại” Tác giả: Nguyễn Hiến Lê.

Nguyễn Hiến Lê được đánh giá là một nhà văn hóa lớn của Viêt Nam trong thế
kỷ 20. Trong suốt cuộc đời mình, ông đã dịch, viết và biên tập hàng loạt cuốn
sách về triết học, văn học và nhất là về nghệ thuật sống. Tự học, một nhu cầu của
thời đại là một trong những cuốn sách như thế của ông.
Được viết trong thời kỳ đất nước có nhiều cạnh tranh và biến đổi, đứng trước
những thách thức và cơ hội lớn lao. Nhưng, như tác giả nhận định thấy phương
pháp tiếp nhận kiến thức của con người nước Nam còn chưa hiệu quả. Từ kinh
nghiệm của bản thân, từ thời trẻ, thời gian rảnh rỗi nhiều, đọc rất nhiều sách vở
nhưng kiến thức thu về chẳng được là bao. Cho tới xét nét về nền giáo dục hiện
hành, thì kiến thức được giảng dạy tại các trường học không theo kịp với thời đại,
chỉ chuyên chú vào việc nhồi nhét cho học sinh mà không khuyến khích học đào
sâu khám phá. Về phần những người mang lòng ham thích sự tụ học thì lại thiếu
thốn cả điều kiện lẫn phương pháp.
Trong khi đó, so sánh ở nước ngoài thì các phương pháp tự học đã được truyền
bá từ lâu và đem lại hiệu quả rộng rãi. Từ đó, tác giá quyết định biên soạn cuốn
sách này, nhằm cổ vũ, hướng dẫn mọi người tự học.
Về tổng quát, cuốn sách có thẻ chia làm ba phần.
Phần một, từ chương 1 tới chương 4, tác giả trình bày khái niệm tự học, đối tượng,
ích lợi cũng như tác hại của việc tự học. Ngoài ta, ông nói viề việc chuẩn bị cho
việc tự học đồng thời thuyết minh về những phương pháp tự học.
Phần hai, từ chương 5 tới chương 7, tác giả tập trung vào phương pháp đọc sách
mà theo ông là quan trọng nhất.
Phần ba, trong chương 8, ông nói về việc tự học ngoại ngữ
Phần bốn, gồm chương 9 và chương 10, ông liệt kê những tiêu đề sách mà người
tự học nên tìm hiểu.
Phần năm, chương 11, tác giả hướng dẫn sử dụng thẻ ghi chú.
Phần sáu, chương 12, tác giả đề cập tới viết sách và dịch sách như một công cụ
tự học.
Phần bảy, chương 13, nói về các quy cách sử dụng, bảo quản và làm việc với
sách, cũng như thú chơi sách.
Phần tám, chương 14 và các phụ lục, nhấn mạnh lại về tự học cùng các bảng từ
Hán Việt cùng những danh ngôn về tự học.
Phần thứ nhất: Tác giả xóa đi quan niệm tự học theo nghĩa hẹp, là một con người
không có ai chỉ dạy, giúp đỡ mà chỉ một mình một đường, mày mò mà học. Ồng
cho rằng hễ khi nào một người chủ động, không bị ai bắt ép mà tự kiếm tìm tri
thức thì đó đã là tự học rồi. Tự học là một nhu cầu của thời đại, bởi lẽ: Óc tò mò
khám phá là thiên tính của con người, việc tự trang bị tri thức giúp con người bổ
sung và cập nhật vốn hiểu biết của mình, điều mà học một cách bị động không
làm được, nguyên do là việc dạy học ở nhà trường chỉ nhồi nhét kiến thức mà
không gây cảm hứng và dạy kỹ năng, và những tri thức từ đó cũng không đầy đủ.
Tự học còn giúp con người làm tròn bổn phận của mình với xã hội, bởi lẽ: vai trò
của con người ở những nơi khác nhau, như trong gia đình, tại công sở, ngoài chốn
công cộng lại khác nhau. Viêc tự học sẽ trang bị cho con người những kỹ năng
để làm tròn những vai trò đó.
Thêm vào đó, trong thời đại hiện nay, những tiến bộ vè khoa học- kỹ thuật đã
nâng cao điều kiện vật chất, khiến cho con người có thể giảm bớt lượng thời gian
làm lụng mà kéo dài thời gian rảnh rỗi của mình. Khoảng thời gian ấy mà để phí
thì thật la đáng tiếc. Sao ta không dùng nó vào một việc làm có ích như tự học?
Tự học đem lại cho con người niềm vui khám phá, họ có thể đặt bước tự do lên
bất cứ hướng nào mà mình thích trên con đường tri thức, chứ không bị gò ép như
ở trường, nơi có thể có những bài học chán ngắt, những giáo viên khó tinh hay áp
lực thi cử nặng nề. Khi tự học, bắt đầu, tạm ngừng hay kết thúc hết thảy đều phụ
thuộc vào bản thân ta. Hơn nữa, người tự học có cơ hội đồng cảm với những tác
gia nổi tiếng và uyên bác, để từ đó đẩy cao tinh thần của mình lên.
Tóm lại, tự học nếu đúng cách, nâng cao vốn tinh thần của con người, giúp họ trở
nên lương thiện và còn đem lại những điểu có khả năng sinh lợi về vật chất cho
người học mà dẫn chứng là biết bao nhiêu người tự học mà thành giàu có.
Ai cũng có khả năng tự học. Không nên e ngại tuổi già bởi vì đã có bao nhiêu tấm
gương già mà vẫn học. Còn nữa, người già thời gian rảnh rỗi cũng nhiều, điều
kiện cũng đã có phần dư dả và con cháu sẵn lòng chăm sóc thì tại sao không tận
dụng mà tự học? Không nên e ngại thiếu hụt thời gian, ai cũng như ai, một ngày
có 24 giờ, nhưng làm được ít hay nhiều việc chính là bởi khả năng sắp xếp, quản
lý thời gian mà ra. Nếu biết quản lý tốt quỹ thời gian của mình, lại tập trung chú
ý, loại bỏ những điều thừa thãi thì thời gian có thể dành cho tự học là nhiều lắm.
Lại càng không nên e ngại bản thân mình thiếu khả năng tự học, bởi dẫu có vỗn
kiến thức, kỹ năng càng cao thì càng tiện lợi cho học tập, nhưng chỉ cần có chút
vốn liếng căn bản là đã đủ cho việc tự học tuần tự từ thấp lên cao. Bỏ qua những
e ngại đó, lại còn biết tìm thêm những bạn bè mà tự học thì ắt sẽ càng mau tấn
tới.
Cần để ý cả những khía cạnh tiềm ẩn tiêu cực của tự học, tiêu biểu là ta sẽ dễ
dàng rơi vào trạng thái viển vông mà làm lu mờ thực tế. Tự học sai phương pháp
sẽ khiến người ta bị ngợp rồi vừa đánh mất căn bản lại không nắm được ý sâu xa,
công sức mất mà chẳng đạt được thành tựu gì.
Như vậy, việc tự học vừa là một nhu cầu cấp thiết, vừa là một thú vui, nhưng xem
theo tình hình thời sự lúc bấy giờ thì mặc cho ở nước ngoài việc tự tìm tòi kiến
thức được cổ vũ lắm mà trong nước thì chẳng có bao nhiêu. Tác giả mong mỏi
trong tương lai gần, việc cổ xúy cho tình thần tự học sẽ được sự quan tâm nghiêm
túc hơn từ nhà nước và từ mỗi con người nước Việt.
Từ những nhận định về lợi ích, tác hại, thuận lợi cùng những khó khăn của việc
tự học kể trên, tác giả đặt ra câu hỏi về việc chuẩn bị và tiến hành tự học như thế
nào? Ngoài thời gian, điều kiện vật chất ra thì quan trọng nhất với mỗi người tự
học đó là lòng tự tin và nghị lực. Phải có quyết tâm và định lực mạnh mẽ lắm thì
mới mong cho việc tự học mang lại tiến bộ đươc. (Trong phần này, tác giả đưa ra
những phương pháp luyện rèn nghị lực và nhận xét: nghị lực thì ai cũng có dù
nhiều dù ít, nhưng có luyện tập thì ít cũng ắt hóa nhiều). Khi có tự tin và nghị lực
rồi thì điều quan trọng nữa trong quá trình tự học đó là phải làm sao đặt ra một
chương trình chu đáo, bởi lẽ có sức quyết tâm mà không đi theo lộ trình xác đáng
thì kết quả tốt đẹp khó mà đạt được. Cái chương trình đó cần phải dựa trên một
mục đích rõ ràng và thiết kế để phục vụ theo như cầu, sở thích và khả năng của
người học để rồi qua đó giúp người tư học hiểu sâu thêm về lĩnh vực của mình,
luyện rèn các đức tính tốt và mở mang đầu óc.
Khi đã chuẩn bị được chương trình tự học rồi, ta có thể triển khai nó qua những
cách tự học sau: Đầu tiên là tự học có người chỉ dẫn, bao gồm việc dự thính các
bài giảng, theo học những lớp hàm thụ và nghe diễn thuyết. Thứ hai là tự học một
mình thông qua việc nhận xét, điều tra, nói chuyện và nhất là đọc sách. Đọc sách
được tác giả cho là phương pháp hiệu quả nhất và được chú trọng trong những
phần sau.
Phần thứ hai: Tác giả đưa chúng ta đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: “Đọc sách các
nào”?
Nguyễn Hiến Lê cho rằng đọc sách là phương pháp tự học hiệu quả và tối ưu nhất
bởi vì nó mang tính độc lập cao và yêu cầu ít hơn so với những phương pháp tự
học đã liệt kê ở trên. Ông còn đưa ví dụ về hết thảy những nhà thông thái đều
khuyên con người ta chăm đọc sách. Cho rằng đọc sách là một nghệ thuật mà ít
người nắm được.
Bước đầu, Nguyễn Hiến Lê bày cho ta cách lựa sách. Nên đọc trước hết những
sách có ích cho nghề nghiệp của mình, những sách nâng cao đạo dức và sách có
khả năng mở mang trí tuệ. Để chọn được một cuốn sách hay thì chúng ta nên dựa
vào hai điều: Kinh nghiệm của bản thân và ý kiến của những nhà phê bình. Kinh
nghiệm của bản thân thì cần phải có sự tích lũy trong quá trình đọc còn về phía
những nhà phê bình thì phải lựa những người có uy tín và công tâm. Không nên
để doanh số bán sách nhiều hay ít làm lóa mắt. Người nào muốn nắm chắc từ gốc
thì nên tìm hiểu từ những cuốn sách căn bản, có giá trị được chấp nhận rộng rãi
rồi hẵng mở rộng ra dần dần tùy theo năng lực của mình. Cũng tương tự cho
những câu hỏi về nên đọc sách nhiều hay ít, nhanh hay chậm, có nên nằm khi đọc
sách không thì tất thảy đều phải dựa trên khả năng và nhu cầu của mình sao cho
thoải mái và giữ lại được lượng kiến thức đầy đủ nhất. Nên có ghi chép khi đọc
sách và tập sử dụng hệ thống ký hiệu và tốc ký, tránh xa lối đọc sách ào ào như
nuốt thời gian mà chẳng đọng lại được gì và tuân theo một số quy tắc. Thứ nhất
là nên tận tâm theo đuổi một chủ đề đã chọn cho tới cùng, thứ hai là cần thu thập
nhiều đầu sách của các tác giả khác nhau về một chủ đề đang nghiên cứu để thuận
lơi cho so sánh và đa dạng về góc nhìn. Một quy tắc nữa là đa dạng hóa sách đọc,
biết chen lẫn những cuốn nặng nề nghiêm túc bằng những tác phaarm nhẹ nhàng,
bổ ích. Cần biết nhận định sách nào nên đọc kỹ càng, sách nào nên lướt qua, sách
nào thì bỏ qua không đọc. Càng cần phải tìm tòi suy nghĩ khi đọc sách, chớ nên
bỏ lửng khi mới gặp khó khăn, nhưng nếu nhận thức mình chưa đủ tầm để học
một cuốn nào thì nên dừng lại, đợi tới bao giờ sở học đã nâng cao hẵng quay lại.
Tác giả nhấn mạnh vào việc đối chiếu mục lục, các tóm tắt nội dung trong quá
trình đọc đẻ đem lại hiệu quả cao khi đọc sách. Nhờ việc đối chiếu và đọc đi đọc
lại, ta rèn được nếp kỹ tính và óc phán đoán của mình.
(Trong phần này, bên lề hướng dẫn lựa và đọc sách, tác giả còn đưa ra những
thuyết minh chi tiết về các thư viện lớn trên toàn quốc Việt Nam thời bấy giờ).
Sau khi hướng dẫn ta những bước đầu trong đọc sách, tác giả lại chỉ cho ta những
phương pháp cụ thể khi đọc các thể loại sách khác nhau.
Với những cuốn sách khảo cứu, ông đưa ra bốn quy tắc của Decartes: Phải chứng
minh một sự thực rồi mới có thể nhận nó là sự thưc, cần phân tích vấn đề ra nhiều
phần nhỏ để giải quyết ( quy tắc phân tích), sau đó tổng họp chúng lại một cách
xác đáng (quy tắc tổng hợp) và cuối cùng, cần kiểm tra cẩn thận để không bỏ sót
thứ gì. Tác giả dặn chúng ta khi tiếp thu ý kiến gì từ trong sách vở, cần biết đặt
giả thuyết mà kiểm tra xem những ý kiến đó đúng hay sai và cần biết đặt câu hỏi
ngược. Không nên để những câu nói đẹp đẽ hoa mỹ làm mờ đi cái óc phán xét
của mình. Tránh rơi vào hiện tượng tập trung vào bộ phận rồi không nắm được
cái toàn thể như thầy bói xem voi, và chú ý tới tính chính danh khi tiếp nhận ý
kiến, bởi mỗi tác giả lại đứng trên một quan điểm khác nhau để đưa ra các luận
điểm của mình, và như thế, ta cần phải xác định rõ những lập trường ấy trong khi
tiếp nhận ý kiến của họ.
Tiếp theo, hướng dẫn đọc tiểu thuyết, mà Nguyễn Hiến Lê cho rằng đây là một
thể loại văn học thú vị và nhiều ích lợi, mặc cho có những người còn chưa đánh
giá đúng nó. Ông cho rằng những tác phẩm này có khả năng đưa con người vào
thế giới tưởng tượng, xua tan đi mỏi mệt và làm đời sống con người thêm thi vị.
Việc đọc tiểu thuyết giúp chúng ta hiểu được hai thế giới, một là thế giới sâu ở
bên trong lòng con người, hai là thế giới mênh mông ở ngoài vì tiểu thuyết là tấm
gương phản chiếu đời sống thực nhưng cũng kèm theo dấu ấn cá nhân của tác giả.
Người viết cho rằng muốn đọc tiểu thuyết phải đọc vài lần, lần đầu để thoát ly
hiện tại, những lần sau để nắm được những hiểu biết thêm. Khi ấy, phải nhận định
xem tiểu thuyết thuộc loại nào và tìm nắm lấy cái tư tưởng, nhân sinh quan tiềm
tàng trong ấy. Ngẫm xem trong tác phẩm ta vừa đọc nó hàm chứ sự thật ở mức
độ nào. Sau đấy, ông liệt kê những thể loại tiểu thuyết và không quên kèm theo
lời khuyên tránh xa những cuốn có hại, làm giảm giá trị và trụy lạc con người.
Một thể loại văn học khác được tác giả đề cập tới là thơ. Nguyễn Hiến Lê nhắc
tới thơ như là một loại hình nghệ thuật đẹp đẽ và có khả năng an ủi cũng như
nâng cao lý tưởng con người. Ông cho rằng thơ có muôn chất, rất đa dạng không
thể tóm tắt được hết trong vài ý được, nhưng xét ở Việt Nam thì có những thể loại
thơ sau: Nhữn thể thơ thuần túy của Việt Nam như lục bát, song thất lục bát cùng
những biến thể của chúng, những thể thơ mang ảnh hưởng của Trung Hoa và mới
nhất là các bài thơ chịu ảnh hưởng của Pháp gồm thơ buông và thơ tự do. Tiếp
theo, những nhận định về cách đọc và ngâm thơ được đóng góp, mà theo tác giả,
chưa hẳn đọc sách là hai người sáng tác chung mà là đọc thơ. Việc tìm hiểu một
bài thơ cũng là sáng tác. Khi ấy ta không chỉ cảm nhận nhạc điệu trong thơ mà
còn xét tới cảnh và tình trong ấy, cảm chúng không chỉ bằng khối óc mà phải
bằng cả con tim.
Kết thúc phần này, tác giả đưa ra những lời khuyên của mình về đọc báo, theo
ông, người đọc không nên đọc tất cả các báo và tất cả các tin trong báo, bởi lẽ dĩ
nhiên, lượng tin ghi trên báo là quá nhiều, nếu cố sức mà đọc hết thì còn đâu thời
giờ. Người đọc báo cần luyện tập khả năng đọc lướt qua tiêu đề, lựa chọn những
bài đáng giá mà đọc. Một điều nên làm là cần nhận định rõ tư tưởng, lập trường
của một tòa báo, xem xem tờ báo ấy thường có ý kiến thiên lệch bên nào. Nếu có
thể tìm được những bài báo, phóng sự tốt thì đó là một nguồn hay cho ta tự học.
Phần ba: Tự học ngoại ngữ.
Tác giả đã nhấn mạnh người đọc phải bỏ ngay cái huyễn tưởng là có thể học ngoại
ngữ một cách cấp tốc. Chẳng người bình thường nào, với lượng thời gian học mỗi
ngày vài tiếng đồng hồ có thể nhanh chóng thông thạo một ngoại ngữ cả. Những
người giỏi ngoại ngữ phần lớn đều phải trải qua một quá trình dài gian khó và
thường xuyên luyện tập. Phải biết chia công việc khó khăn ra từng chặng, đầu
tiên là những từ cơ bản rồi nâng cao dần lên, bền bỉ trong một thời gian dài. Việc
học ngoại ngữ phải biết kết hợp với mục đích của mình thì mới mau hiệu quả, ví
dụ như có người chỉ cần đọc sách, có người lại cần cả để giao tiếp nữa. Sử dụng
đĩa ghi âm là một biện pháp tốt để học phát âm và nói. Không nên ghi nhớ ngoại
ngữ theo một cách rời rạc mà phải gắn từng từ, từng câu nói vào trong một ngữ
cảnh thì mới mau nhớ và sau này sử dụng có hiệu quả.
Cuối phần này, Nguyễn Hiến Lê có viết một hướng dẫn tỉ mỷ về học Hán tự.
Phần bốn: Tác giả đặc biệt liệt kê ra những tựa sách mà người tự học nên bỏ
công tìm đọc, từ sách ngoại văn cho tới sách dịch và sách trong nước với mục
đích cung cấp cho người đọc một danh sách tham khảo đáng tin cậy và đa dạng
theo các thể loại gồm: Những cuốn sách tổng quát, bao gồm thư tịch, ký lục và từ
điển bách khoa, sau đó là những cuốn sách để tu thân, luyện rèn đạo đức. Đi sâu
vào chuyên môn, ông giới thiệu những cuốn sách về lịch sử và văn minh, ngôn
ngữ; mỹ thuật, văn học, luân lý, tôn giáo cùng các môn khoa học tự nhiên.
Phần năm: Hướng dẫn sử dụng thẻ ghi chú. Đây là một biện pháp rất tốt để tóm
tắt, lưu trữ và đánh dấu thông tin bởi trí nhớ dẫu có mạnh đến mấy thì cũng không
thể nào bền hơn giấy mực được. Trong những cách ghi chép, thì sử dụng thẻ đơn
giản và đem lại hiệu qua cao. Mọi người có thể tự làm ra những thẻ ghi chép theo
hướng dẫn, hoặc cũng có thể đi mua.
Thẻ có thể được dùng thành 2 loại chính đó là thẻ thư tịch, dùng để ghi lại những
thông tin cốt yếu về cuốn sách và thẻ tài liệu, là nơi lưu lại những trích dẫn và
nhận xét của người đọc về nội dung cuốn sách. Khi sử dụng thẻ cũng cần phải
tuân thủ những nguyên tắc: mỗi một thẻ chỉ được ghi một chủ đề, trên một mặt
để tiện bề thêm bớt, chỉnh sửa. Ghi chú phải làm cách nào thật ngắn gọn, rõ ràng.
Việc lưu trữ, sắp xếp các thẻ cần có khoa học, phân chia chúng theo từng chủ đề-
với thẻ thư tịch và theo thứ tự nội dung- với thẻ tài liệu.
Phần sáu: Viết và dịch sách cũng là một cách tự học. Quả thật là như vậy, việc
viết nên một cuốn sách có chất lượng yêu cầu ta phải đào sâu nghiên cứu, tìm
hiểu tư liệu từ nhiều nguồn và có sự vận động sáng tạo từ bản thân ta, cho nên
khi viết sách thì những hiểu biết ta thu được lại càng được ghi nhớ sâu và được
ứng dụng, như là đang làm một bài tập lớn vậy.
Để viết một cuốn sách, nên tuân theo các bước: Chọn ra một khoảng không cho
vấn đề nào đó mình quan tâm, xây dựng nên một dàn khung cho cuốn sách, để
rồi đọc sách và tra cứu tài liệu từ những nguồn khả tín để tìm ra những ý cho cuốn
sách của mình. Trong cuốn sách này, Nguyễn Hiến Lê còn bổ sung cho ta những
nguồn tư liệu và cách chắt lọc chúng để chiết ra được những ý kiến riên của mình
và cả những lời khuyên về trình bày cuốn sách sao cho thanh lịch. Đối với những
người mà khả năng viết còn vụng về, yếu kém thì ngoài việc viết sách ra thì dịch
sách là một việc tốt để tự học đồng thời nâng cao khả năng viết của mình. Theo
thời gian, bạn sẽ thấy kiến thức, vốn ngoại ngữ và khả năng viết của mình được
nâng lên đáng kể.
Tuy nhiên, tác giả cũng giành ra một lời khuyên rằng hãy cứ coi hai việc này như
là một cách tự học chứ đừng vội mong đó là những cách kiếm tiền hay mưu cầu
danh tiếng.
Phần bảy: Làm việc với sách, các quy cách sử dụng, bảo quản, sử dụng sách và
thú chơi sách.
Trong phần này, Nguyễn Hiến Lê đưa ra những lời khuyên về thời gian làm việc,
bởi mỗi người có một phong cách, lề thói khác nhau nên việc tìm ra một khung
thời gian hợp lý phải có sự điều chỉnh từ mỗi người. Dẫu sao thì cũng nên đảm
bảo đủ thời gian cho đầu óc hội đủ sự tập trung và làm việc một các đều đặn ôn
tập để những kiến thức thu được không bị quên đi.
Nơi làm việc nên được giữ sao cho gọn gàng, ngăn nắp, yên tĩnh và thoáng đãng.
Tủ sách thì nên được phân loại và sắp xếp cẩn thận theo kế hoạch và chương trình
học tập của mình. Ví dụ như là đặt chung những cuốn cùng 1 thể loại cùng với
nhau, hoặc sắp theo thứ tự từ dễ tới khó. Hãy biết sử dụng thẻ để quản lý, theo
dõi và đánh giá những cuốn sách của mình- việc này cần làm từ khi bắt đầu xây
dựng tủ sách, bởi vì khi số lượng sách đã nhiều rồi thì việc lập thẻ sẽ khó khăn và
mau nản. Để bảo quản sách cho tốt, cần giữ chúng tránh xa hơi ẩm, bụi bặm và
đề phòng mối mọt. Tủ sách cần được vệ sinh định kì.
Về cho mượn và mượn sách, không nên giao sách của mình vào tay những người
bất cẩn, thiếu hiểu biết về giữ gìn, bảo quản và sử dụng sách. Lúc mượn sách của
ai cũng phải nhắc nhở mình tuân theo những quy tắc ấy.
Một số người đã nâng tầm việc sở hữu và sử dụng sách lên thành một thú chơi,
như là thú sưu tầm tem và cổ vật vậy. Lối kiểu cách đó cũng nhiều phần thú vị
nhưng tác giả khuyên người tự học nên tự dè dặt khi đi theo đường lối ấy.
Phần tám: Kết luận lại. sau khi đi cùng người đọc đi qua cả cuốn sách, tác giả
bày tỏ mong muốn được đem lại lợi ích cho cuộc sống, giúp đỡ xã hội từ những
điều nhỏ nhoi mà cụ thể ở đây là khuyến khích và hướng dẫn mọi người tự học.
Ông mong sao có thể đem cái tinh thân tự học thổi vào lứa học sinh tuổi nhỏ, qua
đó các em có thể nhận được những kiến thức vô cùng giá trị.
Nhằm giúp người đọc hiểu cuốn sách rõ ràng rành mạch hơn, trong phần phụ lục
Nguyễn Hiến Lê biên soan thêm phần hướng dẫn đọc chữ Hán cùng cả những
danh ngôn về sự học.
Tổng kết: Dẫu được viết cách chúng ta một khoảng thời gian không phải là ngắn,
nhưng cuốn sách này của Nguyễn Hiến Lê vẫn còn mang những nội dung rất thiết
thực và giàu ứng dụng. Đọc cuốn sách này, bất kì ai cũng có thể thấy ý nghĩa và
tầm quan trọng của sự học và nắm được những hướng dẫn tận tình cho việc tự
kiếm tìm tri thức của mình.

Advertisements